- Tới thời điểm hiện tại, với những kết quả đáng khích lệ đã đạt được trên cả hai mặt trận kiềm chế lạm phát và nhập siêu, dường như các mục tiêu đề ra đã ở trong tầm tay. Tuy nhiên, từ thực tiễn những năm gần đây và những động thái mới của thị trường thế giới, để có thể thực hiện được các mục tiêu, cần đề cao cảnh giác và nỗ lực vượt bậc hơn nữa. Như các số liệu thống kê cho tới thời
điểm này cho thấy, cả kết quả kiềm chế lạm phát lẫn kết quả kiềm chế
nhập siêu đã đạt được đều rất đáng mừng.
“Sự yểm trợ” của thị trường thế giới ?
Trong khi giá tiêu dùng quý I đã tăng bình quân 1,35%/tháng, thì trong
năm tháng gần đây chỉ tăng xấp xỉ 0,2%/tháng. Điều này có nghĩa là, thị
trường trong nước đã hạ nhiệt rất nhiều.
Bên cạnh đó, ở “mặt trận” kiềm chế nhập siêu, tình hình cũng sáng sủa
không kém. Trong đó, điều đáng mừng nhất chính là XK đã tăng tốc ngoạn
mục vượt quá xa mong đợi. Bởi lẽ, sau tám tháng, với ước tính 44,52 tỷ
USD, XK đã tăng 19,7%. Với ước tính NK trong tám tháng 52,68 tỷ USD, tỷ
lệ nhập siêu cho tới thời điểm này chỉ là 18,3%, tức là thấp so với mục
tiêu cả năm kiềm chế ở ngưỡng 20%. Chính vì tình hình khả quan như vậy,
các nhà quản lý đã mạnh tay dự báo rằng, nhập siêu cả năm cũng ở mức
13,6 tỷ USD, tỷ lệ nhập siêu cũng chỉ nhỉnh hơn ngưỡng 20% không đáng
kể.
Hẳn nhiên, việc đạt được kết quả khả quan như vậy trước hết là nhờ những
nỗ lực vượt bậc trong hoạt động quản lý. Bên cạnh đó, cũng không thể
phủ nhận trong những tháng gần đây, việc kiềm chế lạm phát và nhập siêu
được đặt trong một bối cảnh thuận lợi do những tác động tích cực của thị
trường thế giới mà chủ yếu là:
Thứ nhất, giá dầu mỏ thế giới liên tục giảm trong ba tháng gần đây, còn
và giá nguyên liệu phi dầu mỏ thế giới cũng biến động theo xu thế giảm.
Các số liệu thống kê của IMF cho thấy, tuy có tăng, có giảm trong những
tháng đầu năm, nhưng sau khi đạt tới mức “đỉnh” 153,3 điểm phần trăm
(ĐPT) vào tháng 4 năm nay (năm 2005 = 100), giá nguyên liệu thế giới đã
giảm rất mạnh 7,12% trong tháng 5, tháng 6 tiếp tục giảm 1,7%, tháng 7
tuy có nhích lên, nhưng cũng chỉ gần ngang với mặt bằng giá trong tháng
5.
Rõ ràng, đối với một nền kinh tế có “rổ hàng hoá NK” bằng 3/4 “rổ GDP”
và lớn vượt trội so với “rổ hàng hoá XK” như nước ta, đặc biệt là riêng
“rổ hàng hoá nguyên liệu NK” đã bằng gần một nửa “rổ GDP” và lớn gấp bội
so với “rổ hàng hoá nguyên liệu XK”, thì việc giá nguyên liệu thế giới
hạ nhiệt như vậy chẳng những làm cho “rổ hàng hoá NK” đương nhiên “co
lại” mạnh hơn nhiều so với “rổ hàng hoá XK”, cho nên tình hình nhập siêu
bớt căng thẳng, mà còn gián tiếp làm hạ nhiệt giá thị trường trong
nước.
Thứ hai, giá gạo thế giới giảm.
Trên bình diện toàn cầu, các số liệu thống kê của FAO cho thấy, ở thời
điểm chạm đáy trong tháng 5 vừa qua, giá gạo thế giới đã giảm 20,32% so
với đầu năm, còn liên tục ba tháng vừa qua tuy có nhích lên, nhưng vẫn
còn giảm 14,3%. Trong bối cảnh giá cả thế giới tụt dốc như vậy, giá
lương thực trong nước cũng liên tục tụt dốc trong suốt 5 tháng (từ tháng
3 đến tháng 7), cho nên tính chung tám tháng đầu năm chỉ tăng 1,96%.
Rõ ràng, việc giá lương thực chỉ tăng thấp như vậy đã góp phần trực tiếp
làm giảm mức tăng chung của giá tiêu dùng, bởi trên thực tế, mức tăng
của giá hàng phi lương thực và dịch vụ tiêu dùng trong tám tháng đầu năm
là 5,42%.
Không những vậy, việc giá lương thực liên tục giảm trong một khoảng thời
gian dài như vậy chắc chắn còn có tác dụng “làm mát” giá của nhóm hàng
thực phẩm hiện vẫn còn chiếm trên 1/4 “rổ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng”
của nước ta, tức là gián tiếp tác động tích cực đến các kết quả kiềm
chế lạm phát trong tám tháng qua.
Thứ ba, giá thực phẩm thế giới hạ nhiệt trong những tháng qua.
Các số liệu thống kê của FAO cho thấy, giá lương thực, thực phẩm nói
chung của thế giới đã liên tục giảm trong nửa đầu năm nay và tổng mức
giảm cũng lên tới 6,5%. Rõ ràng, việc giá lương thực, thực phẩm thế giới
biến động theo chiều hướng này đương nhiên cũng tạo điều kiện thuận lợi
cho chúng ta trong việc kiềm chế không để giá của nhóm hàng thực phẩm
trong nước tăng quá cao. Điều này không chỉ diễn ra thông qua giá của
các mặt hàng thực phẩm NK “mềm”, mà giá của các mặt hàng XK này giảm dần
trong một khoảng thời gian dài đương nhiên cũng có tác dụng kéo giá
trong nước xuống.
Cẩn trọng không thừa
Thời điểm hiện tại, có hai căn cứ chủ yếu sau đây để cho rằng, cuộc
chiến kiềm chế lạm phát và nhập siêu của chúng ta cần phải thật triệt để
và “cảnh giác” với những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, giá cả thế giới đồng loạt tăng mạnh trong tháng 8 vừa qua.
Các số liệu thống kê do IMF vừa công bố vào giữa tháng này cho thấy, sau
khi đã nhích lên 1,7% trong tháng 7, giá nguyên liệu thế giới nói chung
đã tăng khá mạnh 2,5% trong tháng 8. Không những vậy, điều còn đáng lưu
ý hơn nhiều chính là ở chỗ, trong khi giá dầu mỏ thế giới vẫn giảm nhẹ
0,2% trong tháng 7 và cũng chỉ tăng nhẹ 1,1% trong tháng 8, thì giá
nguyên liệu phi dầu mỏ thế giới liên tục tăng mạnh 4,8% trong hai tháng
vừa qua.
Việc giá nguyên liệu phi dầu mỏ thế giới tăng như vậy là một yếu tố bất
lợi rất lớn đối với nền kinh tế nước ta so với cùng mức tăng của giá dầu
mỏ thế giới. Rất đơn giản bởi vì khối lượng nguyên liệu phi dầu mỏ
trong “rổ hàng hoá NK” của nước ta chúng ta luôn luôn lớn gấp hai lần
các sản phẩm xăng dầu NK. Điều này không chỉ đồng nghĩa với việc giá
nguyên liệu phi dầu mỏ thế giới có tác dụng “khuếch đại” “rổ hàng hoá
NK” của nước ta lớn hơn, mà quy mô NK sốt nóng giá cả thế giới vào thị
trường trong nước cũng lớn hơn, cho nên tác động tiêu cực tới các kết
quả kiềm chế lạm phát cũng lớn hơn.
Bên cạnh đó, các số liệu thống kê của FAO cũng cho thấy, sau khi tăng
nhẹ 2,9% trong tháng 7, giá lương thực, thực phẩm thế giới đã tăng mạnh
5,1% trong tháng 8, đặc biệt là mức tăng của riêng giá lương thực đều
cao hơn gấp 2 lần (6,6% trong tháng 7 và 12,6% trong tháng 8).
Có thể nói, tuy tác động của tác nhân này không quá lớn đối với việc
kiềm chế nhập siêu, bởi tỷ trọng của nhóm hàng này trong cả hai “rổ hàng
hoá” XK và NK đều không lớn như nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu XK và
NK, nhưng tác động tiêu cực của nó đối với cuộc chiến kiềm chế lạm phát
là rất lớn. Việc giá gạo thế giới tăng khiến giá gạo ở khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long lập tức tăng và kéo theo giá lương thực cả nước tăng
theo từ cuối tháng 8 đến nay đủ cho thấy điều đó.
Thứ hai, nếu như những tác động nói trên chỉ mang tính nhất thời, có thể
là ngay trong tháng 9 này, cũng như trong tháng 10 tiếp theo, thì việc
giá cả thế giới có nhiều khả năng sẽ tiếp tục tăng trong những tháng
cuối năm sẽ là tác nhân ảnh hưởng tiêu cực lớn hơn nhiều đến cuộc chiến
kiềm chế lạm phát và nhập siêu của chúng ta trong những tháng tới.
Trước hết, “thông lệ” của thị trường thế giới là giá nguyên liệu tăng
trong quý IV các năm. Cụ thể, từ đầu thập kỷ đến nay, trừ 2008, còn lại
tất cả các năm giá nguyên liệu thế giới đều tăng hầu như liên tục trong
những tháng cuối năm và mức tăng bình quân của tám năm này là 3,4% mỗi
tháng.
Như vậy, nếu theo “thông lệ” này, chúng ta sẽ phải đối mặt với những khó
khăn gấp bội cả trong cuộc chiến kiềm chế lạm phát lẫn kiềm chế nhập
siêu trong những tháng cuối năm , bởi đặc thù độ mở ở cả đầu ra XK lẫn
đầu vào NK quá lớn, cũng như kết cấu của các “rổ hàng hoá” xuất, NK của
nền kinh tế nước ta như đã nói ở trên.
Bên cạnh đó, các số liệu thống kê của FAO cũng cho thấy “tập quán” tăng
giá lương thực, thực phẩm thế giới còn mạnh hơn trong những tháng cuối
năm, đặc biệt là giá lương thực. Theo đó, ngoại trừ biệt lệ 2004 và
2008, giá lương thực, thực phẩm bốn tháng cuối năm tăng bình quân tới
5,5% so với tám tháng đầu năm, còn mức tăng của giá lương thực lên tới
11,9%.
Tóm lại, cuộc chiến kiềm chế lạm phát và nhập siêu của chúng ta trong
những tháng tới có nhiều khả năng phải đối mặt với những khó khăn mới.
Những khó khăn đó chúng ta cần có các giải pháp khẩn trương và cụ thể.
Giải pháp hạn chế nhập siêu
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Thành Biên khẳng định: Để tiếp tục thực
hiện hạn chế nhập siêu và khuyến khích xuất khẩu, Bộ Công Thương đã
cùng với các bộ ngành liên quan tìm ra các giải pháp hỗ trợ tốt nhất
doanh nghiệp. Đó là các giải pháp tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp
cận nguồn vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh và mua hàng xuất khẩu
thông qua các nhóm hàng đã được quy định, không chịu lãi suất cao như
lãi suất thỏa thuận của các loại hình thức kinh doanh khác. Bộ Công
Thương đã ban hành Chỉ thị số 18/CT-BCT về việc triển khai các biện pháp
đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, hạn chế nhập siêu năm 2010;
hạn chế lạm phát cao, ổn định kinh tế vĩ mô, đạt mục tiêu tăng trưởng
kinh tế 6,5%.
Bộ yêu cầu các bộ, ngành liên quan cùng các hiệp hội, ngành hàng tiếp
tục đề xuất và thực hiện các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng thị
trường, khai thác tốt những thị trường hiện có và những thị trường tiềm
năng để nâng cao kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông sản và thủy sản; nắm
bắt tình hình và tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu; xem xét
điều chỉnh cơ cấu thu hút đầu tư nước ngoài theo hướng ưu tiên các dự án
sản xuất, trong đó khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu, giảm tỷ trọng
các dự án đầu tư vào các lĩnh vực phi sản xuất. Các tập đoàn, TCty rà
soát tình hình thực hiện việc nhập khẩu máy móc thiết bị, vật tư nguyên
vật liệu trong thời gian qua; xác định các chủng loại máy móc thiết bị,
vật tư nguyên liệu trong nước đã sản xuất được bảo đảm chất lượng phù
hợp để tổ chức đấu thầu hoặc chỉ định thầu trong nước; sử dụng tối đa
các sản phẩm sản xuất trong nước.
InfoTV(DDDN)